*Khi về nhà thống lí
-Mị bị bắt làm con dâu gat nợ, thực chất là nô lệ
Về nhà thông lí, Mị bị vùi dập, chà đạp, cướp đoạt tất cả mọi quyền, sống như kiếp vật. Mở đầu tác phẩm, nhà văn đã đưa ra hai nghịch cảnh:
+ Cảnh Mị ngồi quay sợi gai bên tảng đá, cạnh tàu ngựa. Người đặt bên đồ vật, con vật nghĩa là con người khác gì đồ vật, kiếp vật. Suốt ngày làm lụng vất vả, dù quay sợi, thái cỏ, dệt vải, che củi hay đi cõng nước, Mị cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi.
+ Một bên cảnh nhà thống lí quyền thế, giàu có, người ra vào tấp nập. Thống lí “nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng”.
=> Đây là thủ pháp tạo tình huống “có vấn đề” trong lối kể chuyện truyền thống, giúp nhà văn mở lối dẫn người đọc cùng tham gia vào hành trình tìm hiểu những bí ẩn của số phận nhân vật.
+ Món nợ truyền kiếp khiến Mị trở thành con dâu gạt nợ. Thực chất bề ngoài là con dâu nhưng bên trong là con nợ. Mối quan hệ giữa con nợ và chủ nợ kiểu thống lí Pá Tra thì đến bao giờ mới trả xong nợ? Bởi con nợ là con dâu, mà là con dâu thì đã “trình ma” nhà này rồi, chạy đâu cho thoát, chỉ còn cách chịu đựng đến tàn đời mà thôi.
+ Thực ra Mị đã sớm linh cảm thấy cuộc đời của mình sẽ trở thành con nợ chung thân cho nhà thống lí nên ngay từ đầu, Mị đã van xin cha “đừng bán con cho nhà giàu”. Mị sẽ tự cuốc nương, trồng ngô để trả nợ thay cha. Nguyện vọng của Mị không thể chống lại hoàn cảnh và mưu chước thâm độc của cha con thống lí.
*Mị bị cướp đoạt sức lao động, sống như một kiếp vật
+ Bị bắt về nhà thống lí, Mị sống trong tủi cực đúng nghĩa với một nô lệ khổ sai. Có đến mấy tháng tròi, đêm nào Mị cũng khóc. Suy ngẫm uất ức, Mị tìm đến nắm lá ngón để giải thoát, nhưng trước những lời thống thiết của người cha già suốt đời nghèo khổ, lòng hiếu thảo nào không khôn xiết, Mị nén nỗi đau, chấp nhận quay về chịu kiếp ngựa trâu.
+ Với thủ pháp so sánh tương đồng, nhà văn làm nổi bật cuộc đời cơ cực của Mị, Mị nghĩ mình cũng là con trâu, con ngựa vì “là con trâu con ngựa thì phải đổi ở tàu ngựa nhà này đến tàu ngựa nhà khác, là trâu ngựa thì chỉ biết ăn cỏ, đi làm mà thôi”. Nhà văn nhấn mạnh thậm chí Mị không bằng con trâu con ngựa vì “con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ”, còn kiếp đàn bà con gái trong cái nhà này thì làm quần quật cả đêm lẫn ngày, tới mức Mị nghĩ: “ở lâu trong cái khổ, Mị quen rồi”.
+ Công việc tuần tự ngày này qua tháng khác đơn điệu, tẻ nhạt… Mị chỉ biết cúi mặt làm không muốn nghĩ nữa, vật vờ tồn tại như cái xác không hồn. Càng ngày Mị càng không nói “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Hình ảnh con rùa lùi lũi lại gợi nhớ tới câu ca: “Thương thay thân phận con rùa/ Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia”, đó là ẩn dụ về thân phận phụ thuộc, cơ cực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến mà Mị là một hoàn cảnh tiêu biểu.
+ Căn buồng Mị ở tù túng, âm u, lạnh lẽo “kín mít chỉ có một cái cửa sổ bằng một lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng, Mị nghĩ cứ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra đến bao giờ chết thì thôi”. Chi tiết gây ám ảnh ngột ngạt, bức bối về một địa ngục trần gian, ẩn dụ bế tắc về một cuộc đời, một số phận. Con dâu mà như tù nhân khổ sai, như một thứ công cụ lao động chỉ để cha con thống lí chà đạp, sai khiến. Nhà văn đã cất lên tiếng nói nhân quyền của con người để vạch trần, tố cáo tội ác của bọn chúa đất ở miền núi độc ác, vô đạo đã làm cạn khô nhựa sống, làm tàn lụi niềm vui sống của những con người vô cùng đáng sống.
–Mị không chỉ bị cướp đoạt tự do và sức lao động mà còn bị cha con thống lí áp chế về tinh thần
Chúng lợi dụng sự mê tín của người nông dân để sinh tục “cúng ma, trình ma”, khiến Mị cũng như bất cứ người con gái nào ở Hồng Ngài về nhà chồng cũng chỉ còn biết tin một điều: “Nó đã bắt mình vào trình ma nhà nó rồi thì chì đợi chết ở đây thôi”. Suốt một đời họ chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng.
-Mị bị chà đạp, ngược đãi khiến tinh thần bị tê liệt tới mức vô vọng
+ Mùa xuân về. Mị muốn đi chơi, bởi bao người có chồng còn đi chơi, huống chi Mị và A sử chẳng có lòng với nhau. Ước muốn của Mị vừa loé lên đã bị A Sử dập tắt. A sử trói đứng Mị suốt đêm trong căn buồng u tối. Dây trói xiết chặt làm da thịt Mị đau nhức như bị dứt ra từng mảng. Đau đớn, xót xa, Mị nghĩ kiếp mình không bằng kiếp ngựa. Kể từ đó, tinh thần Mị càng rơi vào vô vọng.
+ Mị đã phải sống với người chồng mình không yêu, không được yêu, Mị còn bị A sử đánh đập, hành hạ tàn bạo. Khi hắn bị A Phủ đánh, Mị phải vào rừng hái thuốc về xoa cho hắn. Vậy mà lúc đau mỏi quá thiếp đi, hắn co chân đạp thẳng vào mặt Mị.
+ Những đêm đông gìá lạnh trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi làm bạn thì Mị đã chết tàn, chết héo. Mỗi đêm Mị dậy thổi lửa hơ tay không biết bao nhiêu lần. Có đêm A sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp. Những hành động của hắn thật dã man, đó không phải là mối quan hệ vợ chồng mà là quan hệ chủ – tớ. Thân phận Mị là thân phận nô lệ.
Việc Mị quyết định chạy theo A Phủ đã đem đến những điều tốt đẹp gì cho nhân vật
Nêu những lý do khiến Mị quyết định cắt dây giải thoát cho A Phủ
Chỉ ra những nhân tố tác động và những thay đổi trong suy nghĩ, hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân
Nêu những nét chính về cuộc đời bất hạnh của Mị (từ khi về làm dâu gạt nợ)
Đến với với các tác phẩm văn học, bạn đến với mọi miền quê hương đất nước. Nêu những cảm nhận sâu sắc về cảnh vật, con người của một vùng đất nào đó mà (anh,chị) đã được học trong chương trình Ngữ văn lớp 12
Phân tích nhân vật a phủ trong truyện ngắn " Vợ chồng a phủ "
1. Mở bài: Giới thiệu nhà văn Tô Hoài và truyện ngắn Vợ chồng A Phủ.
2. Thân bài: Phân tích nhân vật A Phủ cần có những ý chính sau.
Nửa đầu của truyện Vợ chồng A Phủ kể về quãng đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, trong nhà thống lí Pá Tra. Ở phần này, A Phủ là nhân vật phụ, nhưng có tác dụng làm nổi bật hình tượng nhân vật chính là Mị và khắc họa rõ hơn chủ đề tác phẩm. A Phủ là nhân vật được miêu tả sóng đôi với Mị, góp thêm một thân phận người lao động nghèo vào bức tranh hiện thực của tác phẩm.
A Phủ mồ côi cả cha lẫn mẹ vì nhà bị chết dịch. Có người bắt A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái. Tuy mới mười bốn, nhưng A Phủ gan bướng, trốn thoát lên núi, rồi lưu lạc đến Hồng Ngài. Lớn lên giữa núi rừng, A Phủ thành một chàng trai khỏe mạnh "chạy nhanh như ngựa", lao động giỏi, lại"săn bò tót rất thạo". Vì thế, A Phủ trở thành niềm mơ ước của bao cô gái. Họ bảo nhau: "Đứa nào được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà". Tuy vậy, A Phủ suốt đời làm thuê làm mướn, nghèo đến nỗi không thể nào lấy được vợ và cũng không có nổi cả cái vòng bạc để đi chơi ngày Tết như bao chàng trai Hmông khác. Chính hoàn cảnh khắc nghiệt này đã góp phần tạo nên ở A Phủ tính cách gan góc, táo bạo và một sức sống mạnh mẽ. Hình ảnh A Phủ khiến người đọc nhớ tới những nhân vật chàng Mồ Côi, chàng Khó tràn đầy sức lực, lao động giỏi và giàu nghĩa khí trong văn học dân gian. A Phủ dám đối mặt với bọn con quan một cách thật hùng dũng và đầy tự tin. Anh sẵn sàng trừng trị kẻ đã phá cuộc vui của bạn bè mình. Cũng vì thế, A Phủ bị trói mang đến nhà Phá Tra để xử kiện. Cuộc xử kiện quái lạ này thực chất chỉ là một cuộc tra tấn dã man để cuối cùng A Phủ vô cớ phải trở thành người nô lệ gạt nợ cho nhà thống lí. Bằng ngòi bút miêu tả phong tục bậc thầy, Tô Hoài đã làm hiện rõ trước mắt người đọc một cuộc xử kiện sống động và giàu sức tố cáo, từ đó vạch trần cách áp bức dã man, trắn trợn kiểu trung cổ của bọn thống trị miền núi. Qua "làn khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn ra các lỗ cửa sổ", cứ hút trong một đợt thuốc phiện Pá Tra lại ra lệnh, trai àng lại từng đợt, từng đợt thay nhau lạy tên thống lí lia lịa rồi xông vào đánh A Phủ. Còn người thanh niên khốn khổ này chỉ biết im lặng chịu đòn "suốt chiều, suốt đêm". Như vậy, tuy là một chàng trai tự do của núi rừng, A Phủ vẫn không thoát khỏi nanh vuốt của bọn chúa đất. Từ đây, anh bỗng vĩnh viễn trở thành con trâu, con ngựa, như một nô lệ cho nhà Pá Tra. Hơn nữa, cho đến cả đời con, đời cháu, bao giờ trả hết nợ mới thôi. Và nếu không gặp Mị, chắc chắn A Phủ đã phải chết một cách thê thảm tại nhà thống lí. Tinh thần phản kháng là cơ sở để sau này, khi gặp A Châu – người cán bộ của Đảng, A Phủ nhanh chóng giác ngộ cách mạng, tham gia du kích, tích cực đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng quê hương.3. Kết bài
Câu chuyện về A Phủ - người nô lệ gạt nợ đã bổ sung cho câu chuyện của Mị - người con dâu gạt nợ, để hoàn thiện bản án về tội ác của bọn chúa đất đối với những người lao động lương thiện ở miền núi trước Cách mạng, đồng thời cũng cho thấy sức sống mãnh liệt của họ.